Social Icons

Pages

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2016

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh dâng hương tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ và thăm, tặng quà các gia đình chính sách, người có công

Nhân kỷ niệm 68 năm Ngày Thương binh liệt sĩ (27- 7- 1947 * 27- 7- 2015), ngày 25-7, đoàn công tác do đồng chí Vi Trọng Lễ - Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh làm Trưởng đoàn đã đến dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Cẩm Khê và thăm hỏi, tặng quà Mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình chính sách trên địa bàn huyện. Cùng đi có đại diện lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh; Văn phòng Đoàn ĐBQH&HĐND tỉnh; huyện Cẩm Khê và các ban, ngành, đoàn thể của huyện.

Tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Cẩm Khê, đoàn đã thành kính dâng hoa, dâng hương tưởng nhớ công ơn của các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc.
Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Vi Trọng Lễ và các thành viên trong đoàn đến thăm, tặng quà gia đình Mẹ Việt Nam Anh hùng Hà Thị Tĩnh ở xã Điêu Lương.
Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Vi Trọng Lễ và các thành viên trong đoàn đến thăm, tặng quà gia đình Mẹ Việt Nam Anh hùng Hà Thị Tĩnh ở xã Điêu Lương.
Tiếp đó, đoàn đến thăm, tặng quà các Mẹ Việt Nam Anh hùng. Hà Thị Tĩnh ở xã Điêu Lương, Vũ Thị Thỏ ở xã Cát Trù; ông Nguyễn Gia Khánh - bị nhiễm chất độc hóa học và ông Vũ Văn Điền - Thương binh hạng ¼ ở thị trấn Sông Thao; gia đình ông Nguyễn Hữu Hào có 2 đời liệt sĩ ở xã Sai Nga. Đồng chí  Vi Trọng Lễ đã ân cần thăm hỏi sức khỏe và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn trước những hY sinh, mất mát, những đóng góp to lớn của các mẹ, các thương bệnh binh, các gia đình chính sách cho đất nước. Đồng chí động viên các gia đình tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, nỗ lực vượt qua khó khăn để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, là tấm gương, điểm tựa vững chắc về tinh thần để cổ vũ thế hệ con cháu noi theo. Ðồng chí Phó Chủ tịch HĐND tỉnh đề nghị chính quyền, ban, ngành, đoàn thể các cấp huyện Cẩm Khê quan tâm hơn nữa đối với các gia đình có công với cách mạng, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các gia đình chính sách phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống.

Đồng chí Hà Kế San  - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã đi thăm, tặng quà Mẹ Việt Nam Anh hùng và gia đình chính sách ở huyện Thanh Thủy. Cùng đi có lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Văn phòng UBND tỉnh và huyện Thanh Thủy.

 
Thay mặt lãnh đạo tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Kế San thăm, tặng quà gia đình  Mẹ Việt Nam Anh hùng Phan Thị Nguyệt ở thị trấn Thanh Thủy.
Thay mặt lãnh đạo tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Kế San thăm, tặng quà gia đình Mẹ Việt Nam Anh hùng Phan Thị Nguyệt ở thị trấn Thanh Thủy.
 Thay mặt lãnh đạo tỉnh, đồng chí Hà Kế San đã đến thăm, tặng quà các Mẹ VNAH: Phan Thị Nguyệt ở xã Đào Xá,  Lê Thị Dừa ở xã Tân Phương, Nguyễn Thị Thập ở thị trấn Thanh Thủy; thăm gia đình thương binh nặng Nguyễn Văn Nhã ở xã Xuân Lộc và đối tượng bị ảnh hưởng chất độc da cam Nguyễn Văn Lan ở xã Tân Phương. Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã thăm hỏi tình hình gia cảnh, cuộc sống của các đối tượng chính sách. Qua tìm hiểu cho thấy các đối tượng và gia đình đã vượt lên hoàn cảnh, nỗ lực tổ chức tốt cuộc sống; địa phương đã quan tâm tạo điều kiện để các đối tượng, gia đình vươn lên, đồng chí Hà Kế San đã trao đổi giao nhiệm vụ cho huyện, các xã, thị trấn tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện, không để các đối tượng, gia đình chính sách bị thiệt thòi quyền lợi, khó khăn cuộc sống.

Ngày 24 - 7, đồng chí Đỗ Văn Hoành - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh đã tới thăm, tặng quà các gia đình chính sách trên địa bàn huyện Tam Nông. Cùng đi có lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Nông dân tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh; lãnh đạo chính quyền địa phương.

Thăm hỏi, tặng quà Mẹ VNAH Hán Thị Quy (có 2 con là liệt sĩ) và ông Đặng Ngọc Quân - bệnh binh mất 81% sức lao động tại xã Cổ Tiết, đồng chí Đỗ Văn Hoành đã bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh; mong muốn các gia đình giữ gìn và phát huy truyền thống cách mạng, nỗ lực khắc phục khó khăn để vươn lên trong cuộc sống, nuôi dạy con cháu trưởng thành, góp sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Đồng chí đề nghị lãnh đạo địa phương tiếp tục thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; quan tâm, chăm lo tạo điều kiện hơn nữa giúp các thương binh, gia đình chính sách phát triển kinh tế, có cuộc sống ổn định và khẳng định đó là việc làm thiết thực để phát huy truyền thống  đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Nhóm PV
 

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2016

Tình em mùa Thu




Mưa thu chạm đất lòng em đâu ấm
Lá vàng rơi không nắm được gió đưa
Anh còn thương lối cũ mỗi ban trưa
Thắt võng đợi người xưa về cùng mộng?



Thu thấp thỏm sợ anh rơi khoảng trống
Để mùa em lạc lõng giữa tuyết đông
Hái cánh hoa xin dâng tặng bạn lòng
Nhắn người giữ đừng lạc dòng kỷ niệm.


Dù cách trở nhưng vườn xưa vẫn tím
Đậm một màu lưu luyến với hồn anh
Mưa Thu từng giọt nhẹ bước lên cành
Tình Thu chuyển dạ để dành tri kỷ.


Một lời thệ nguyện cũng là chân lý
Không đổi tình chung thủy của vần thơ
Dù mai sau có biến cố bất ngờ
Lòng trắc ẩn vẫn tôn thờ bến cũ.


HỒNG DUYÊN

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2016

Đại hội Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Sai Nga


   5/4/2016 3:29:00 PM 
Sáng ngày 27/4/2016, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) xã Sai Nga tổ chức Đại hội đại biểu  lần thứ XXVIII, nhiệm kỳ 2016-2021. Dự và chỉ đạo Đại hội có đồng chí Trần Mạnh Hà- HUV phụ trách xã, các đồng chí đại diện lãnh đạo Hội LHPN huyện, các đồng chí lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể xã Sai Nga. Nhiệm kỳ qua, Hội LHPN xã đã đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đoàn kết, động viên phụ nữ nỗ lực phấn đấu thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua và các nhiệm vụ trọng tâm của Hội. 
Phong trào thi đua "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc",  "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch" gắn với cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đã được Hội LHPN xã cụ thể hóa bằng các mô hình phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, được đông đảo hội viên phụ nữ tích cực tham gia. Xây dựng được các mô hình nuôi heo đất, tiết kiệm điện, xây dựng quỹ tiết kiệm tại chi hội, ủy thác vay vốn quỹ hỗ trợ Phụ nữ nghèo….Bằng nhiều hình thức hỗ trợ, Hội đã giúp  được 17 hộ phụ nữ  thoát nghèo, 42 hộ cận nghèo vươn lên hộ trung bình, khá.
Trong 5 năm qua, Hội đã phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện mở 7 lớp chuyển giao khoa học - kỹ thuật về chăn nuôi gia súc, gia cầm, chăm sóc lúa giống mới năng xuất cao cho 820 lượt hội viên; tuyên truyền, vận động 195 gia đình hội viên tích cực tham gia “Chương trình rau sạch cận đô thị” do Phòng nông nghiệp huyện chỉ đạo; xây dựng và duy trì tốt các “Đoạn đường phụ nữ tự quản”….góp phần quan trọng nâng cao tay nghề sản xuất và vai trò của người phụ nữ trong cộng đồng, từ đó góp phần cùng với toàn xã khẩn trương hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trong năm 2016.
Với tinh thần dân chủ, đoàn kết Đại hội đã bầu 15 đồng chí vào ban chấp hành khóa XXVIII  và bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội phụ nữ cấp huyện nhiệm kỳ 2016-2021.

 Thực hiện: Hà Thúy 

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2016

Gà Văn Phú





Gà Văn Phú là giống gà địa phương được thuần dưỡng từ lâu ở xã Văn Phú, Xã Sài Ngã, huyện câm khê, tỉnh Phú Thọ. Giống gà này phân bố hẹp, chỉ chủ yếu ở một vài địa phương trong tỉnh Phú Thọ, giống gà thuần chủng hiện nay rất hiếm và còn rất ít đến mức gần như tuyệt chủng. Đây là một giống gà quý được đưa vào diện bảo tồn về nguồngen. Giống gà này được FAO công nhận. Gà Văn Phú là giống gà kiêm dụng được dùngchăn nuôi theo cả hướng thịt và hướng trứng.

Lịch sử

Là giống gà địa phương được hình thành từ lâu đời ở xã Vàn Phú, xã Sai Ngã, huyện Cẩm Khê, tỉnh Vĩnh Phú nay là tỉnh Phú Thọ. Hiện nay gà phân bố không rộng và phần lớn pha tạp. Giống gà này được hình thành trong vùng đất đai màu mỡ ven sông Hồng, hàng năm bị lũ lụt đe dọa, địa hình Trung du, đồi thấp xen kẽ với đất trồng trọt. Chính điều kiện khí hậu kết hợp với chọn lọc và chăm sóc đã tạo nên giống gà Văn Phú. Do có tập quán thi gà, nên từ lúc gà mới nở đã được chọn lọc ngay. Gà Văn Phú ở xã Văn Phú, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, vùng trung du đất đai màu mỡ, xưa có tập quán thi gà mùa Xuân nên chọn lọc được giống đồng nhất về tầm vóc, màu lông, hiện nay không còn giống thuần nữa, nếu phục hồi rất tốn kém.
Đặc điểm
Mô tả

Gà Văn Phú dễ nhận biết do sắc màu lông đen toàn thân, trước đây nhờ có sự chọn lọc và nuôi dưỡng tốt nên nhân dân ở vùng này đã tạo ra giống gà đen có ngoại hình đẹp và cân đối, tầm vóc nhỏ, đầu vừa phải, chân cao, thanh, chân có 2–3 hàng vẩy đen, nhưng có chân chì (mầu đen xám), đuôi dài cân đối, da trắng, lông đen pha lẫn trắng ở cuống lông. Gà Văn Phú lông trên lưng màu đen, nhưng gốc trắng, vùng bụng, đùi có màu tro nhạt. Mào và tích tai phát triển, có mào đơn, màu đỏ mào đơn 5 -6 khía dựng đứng, xương nhỏ, thịt thơm ngon.
Thể chất
Nhìn chung gà Văn Phú có tầm vóc nhỏ. Khối lượng cơ thể qua các giai đoạn thấp hơn gà Đông Tảo, gà Hồ, Gà Mán. Khối lượng gà trưởng thành, con trống nặng 2,0 – 2,0 kg, con mái nặng 1,0 – 1,8 kg. Một năm tuổi con trống có thể nặng 3,2 kg, mái nặng 2 - 2,3 kg. Khi trưởng thành gà cân nặng tối đa 3,5 kg. Gà Văn Phú vừa có khả năng cho thịt vừa có khả năng cho trứng. Sức đẻ 60 - 65 trứng/mái/năm, Sản lượng trứng trung bình từ 60-80 quả/mái/ năm, nếu nuôi tốt có thể đạt 100 – 1 10 quả. Khối lượng trứng trung bình 50 - 55 gam. Sản lượng trứng khá 80- 100 trứng/mái/năm, khối lượng trứng 50 - 55 g. Tỷ lệ nở thấp, chỉ đạt trên 70%.

Do gà có tầm vóc nhỏ nên chúng phát dục sớm và khối lượng trứng cũng nhỏ, thường từ 30-45g. Tuổi đẻ trứng thường từ 5-6 tháng tuổi. Gà Văn Phú ấp trứng và nuôi con vụng về, tỷ lệ nở và tỷ nuôi sống gà con thấp. Gà Văn Phú có tính đòi ấp mạnh, chúng ấp và nuôi con khéo nên tỉ lệ nở và tỉ lệ nuôi sống khá cao, tương đương với gà Ri. Gà Văn Phú chân chì (Phú Thọ) sản lượng trứng cao hơn gà Đông Tảo nhưng khả năng cho thịt kém hơn, đây là giống gà nuôi theo hình thức thả vườn và là giống gà kiêm dụng.
Thực trạng

Ngày nay giống gà này còn lại không nhiều, giống đồng nhất về tầm vóc, màu lông, hiện nay không còn giống thuần nữa, nếu phục hồi rất tốn kém. Hiện khó hồi phục giống vì dân gian còn lưu hành thành ngữ "gà đen chân trì nuôi chi giống ấy" nên ít được dân ủng hộ. Đến nay Việt Nam coi như đã bị tuyệt chủng giống gà Văn Phú (phân bố chủ yếu ở tỉnh Phú Thọ). Quá trình công nghiệp hóa quá nhanh cộng với việc nhập ồ ạt các dòng gà công nghiệp vào Việt Nam là một trong những nguyên nhân khiến gà thuần chủng Việt Nam bị lai tạp, dẫn tới tuyệt chủng.
Nguồn: Trại Giống Thu Hà

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2016

Trăng quê





Trăng quê chung thủy muôn đời
Đêm rằm sáng tỏ trên trời tròn vo
Trăng theo đường nhỏ quanh co
Trăng nằm đáy giếng co ro một mình
Mười lăm trăng mới tỏ tình
Trăng soi vằng vặc chúng mình rong chơi,…

Quê hương là chốn tuyệt vời!
Có dòng sông chảy, có nơi hẹn hò
Chiều quê ríu rít nhỏ to
Đêm nay thỏa chí nhảy cò... cùng trăng
Chia vui còn có chị Hằng
Ngắm đàn con trẻ tung tăng trong làng
Đêm khuya vui vẫn còn vang
Vầng trăng kỷ niệm đêm vàng tuổi thơ
Đêm nay nhớ lại mà mơ
Trở về ngày ấy phải chờ kiếp sau.


HỔ TIẾN TRIỂN (Tánh Linh, Bình Thuận)

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2016

Nón lá Sai Nga

Trong “cơn lốc” công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhiều làng xã của huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ được nghề truyền thống, không những thế còn biến nó thành thế mạnh, Sai Nga là một trong những địa phương tiêu biểu. Tuy là một nghề thủ công “phụ” nhưng đem lại thu nhập “chính” cho các hộ dân nơi đây.

Điều dễ nhận thấy nhất khi về Sai Nga là những khoảng sân trắng màu lá cọ, tre nứa đã chẻ sẵn, dùng để đan nón. Trước kia, khi kinh tế còn khó khăn, lá cọ được dùng để lợp nhà, nhưng ngày nay, cọ chỉ được dùng làm nguyên liệu khâu nón. Những chiếc nón lá nhờ đôi bàn tay khéo léo của người Sai Nga tạo nên được khách hàng khắp nơi ưa chuộng.
Những người già nhất ở Sai Nga cũng chẳng còn nhớ nghề làm nón xuất hiện tự bao giờ, lại càng không thể nhớ ai là người đưa nghề nón từ làng Chuông (Thanh Oai, Hà Nội) đến với người  Sai Nga. Cũng không có sách nào ghi chép về cụ tổ nghề, những người thợ chỉ truyền bằng miệng và nghề đã tồn tại cho đến bây giờ. Nhưng với người Sai Nga hôm nay nghề làm nón không chỉ giúp họ ổn định cuộc sống, mà còn gìn giữ một nét văn hoá của vùng đất Tổ.
Xã Sai Nga được chia thành mười hai đội, mỗi đội tương đương với một thôn. Theo thống kê của xã, hơn 90% số hộ trong xã duy trì nghề làm nón truyền thống. Ở Sai Nga, một học sinh tiểu học cũng có thể nói vanh vách về quy trình làm nón, bởi đây là công việc nhẹ nhàng ai cũng có thể làm được nếu chịu khó quan sát học hỏi, nhưng để tạo được những chiếc nón đẹp, bán giá cao lại phụ thuộc vào sự khéo tay của mỗi người thợ.
(Ảnh: TL)
Để làm ra một chiếc nón phải trải qua rất nhiều công đoạn như tìm chọn mua nguyên vật liệu, làm vành, là lá, quay khâu, nức, nhôi, sấy... Nguyên liệu làm nón gồm: lá, khuôn, vành, mo tre hoặc mo nứa, sợi cước, sợi len để nhôi và một lưỡi cày để là lá. Khi có đủ nguyên liệu thì bắt tay vào làm từng công đoạn. Lá làm nón là lá thanh được bà con mang từ Hà Tây về theo chợ phiên, cứ năm ngày chợ họp một lần. Điều đặc biệt và khá ngạc nhiên về sự giản đơn trong công đoạn làm nón là khâu là lá: chỉ cần một chiếc lưỡi cày, một nụt vải được bó chặt, kèm theo ít củi để hơ nóng lưỡi cày. Hơ lưỡi cày dùng củi thì mới nóng đều chứ không dùng than. Khi lưỡi cày đã nóng, chiếc lá được đặt lên và cầm nụt vải là miết trên lá. Thế là một chiếc lá xoắn đã trở nên phẳng hiện những đường gân thẳng trên nền trắng. Để chiếc lá đẹp, người là phải nhanh tay vì nếu đặt lá lâu trên lưỡi cày sẽ làm lá có màu úa mất đi tính thẩm mỹ. Một chiếc nón được hoàn thành phải mất khoảng 3 giờ, muốn nón được trắng hơn khi làm xong hơ qua diêm sinh. Bình quân một ngày mỗi người làm được 3 chiếc. Người “giỏi nghề” may nhanh tay thì 2 giờ được một chiếc, có ngày làm được từ 5 đến 6 chiếc.
(Ảnh: TL)
Nón Sai Nga không được nổi tiếng như nón Bài Thơ, nhưng không ai có thể phủ nhận chất lượng của nó. Nón Sai Nga bền, đẹp bởi nó được may từ trái tim và tấm lòng người thợ. Nếu nón Bài Thơ mỏng manh yếu ớt chỉ hợp với thời tiết nắng đẹp, thì nón Sai Nga lai vô cùng chắc chắn và là vật che mưa hữu hiệu, vì giữa 2 lớp lá còn có một lớp mo mỏng mà bền. Sản phẩm làm ra đều được thương lái thu mua tận nơi hoặc bán tại chợ phiên, đa phần người làm nón ở Sai Nga vẫn thích đem nón đến chợ phiên và coi đó như một nét văn hóa truyền thống của làng mình. Chợ phiên Sai Nga họp 5 ngày hai phiên chợ (vào Âm lịch) chủ yếu mua bán nón, vật liệu làm nón: lá, cước, len, vành, hoa nón... Nón làng Sai Nga ngày nay cũng đã sánh kịp với nón làng Chuông nổi tiếng ở miền Bắc, nón Sai Nga không chỉ góp mặt ở các phiên chợ quê mà còn được đưa đi các nơi như: Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và cả Hà Nội..
Làm nón chỉ là nghề phụ và mang tính thời vụ. Mùa hè nắng người ta thích đội nón, trẻ con lại được nghỉ hè nên nhiều nhân công vì thế chủ yếu tập trung may vào mùa này. Còn mùa đông may ít và phải làm thêm nghề khác. Dù vất vả nhưng dân làng ai cũng muốn bám chặt lấy nghề nón. Họ vẫn hàng ngày truyền kinh nghiệm cho con cháu. Nó như thứ của hồi môn quý báu cho con gái trước khi về nhà chồng. Có nhiều nghề sẽ bị quên lãng theo thời gian, nhưng khi nào còn người trên đất Sai Nga thì nghề nón vẫn tồn tại. Và hơn thế nữa nghề còn được truyền đi cả các làng lân cận. Khắp huyện Cẩm Khê xã nào cũng có người may nón.
Năm 2004, Sai Nga chính thức được công nhận là làng nghề, với 40% thu nhập từ làm nón. Sự hy sinh của cha ông, ý thức gìn giữ của con cháu, mồ hôi và cả máu đã tô đậm cái danh “làng nghề”. Tuy nhiên, làng nghề cũng đang đứng trước thực trạng thiếu nguồn nguyên liệu trầm trọng khi diện tích cọ ngày càng thu hẹp, nhường đất cho những công trình mới, khu công nghiệp, khu chế xuất... Hơn nữa, ngày nay, do nhu cầu của cuộc sống, thói quen dùng nón che mưa che, nắng của người dân đã có những đổi thay nên nghề làm nón ở đây quy mô nhỏ hơn trước. Một hướng đi mới để nghề phụ phát triển, khuyến khích làm nón, mở rộng thị trường tiêu thụ đồng thời người dân có cơ hội giao lưu với các làng nghề. Đặc biệt, nâng cao tay nghề về mẫu mã để nghề nón lá Sai Nga có “thương hiệu”, giữ được nét văn hóa của làng nghề truyền thống, đem lại hiệu quả kinh tế giúp bà con có cuộc sống ổn định.
Thúy Anh

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2016

BÀI THƠ: QUÊ HƯƠNG

Tác giả: Nguyễn Đình Huân

Quê hương là một tiếng ve
Lời ru của mẹ trưa hè à ơi
Dòng sông con nước đầy vơi
Quê hương là một góc trời tuổi thơ

Quê hương ngày ấy như mơ
Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu
Quê hương là tiếng sáo diều
Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê

Quê hương là phiên chợ quê
Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa
Quê hương là một tiếng gà
Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng

Quê hương là cánh đồng vàng
Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều
Quê hương là dáng mẹ yêu
Áo nâu nón lá liêu siêu đi về

Quê hương nhắc tới nhớ ghê
Ai đi xa cũng mong về chốn xưa
Quê hương là những cơn mưa
Quê hương là những hàng dừa ven kinh

Quê hương mang nặng nghĩa tình
Quê hương tôi đó đẹp xinh tuyệt vời
Quê hương ta đó là nơi
Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.
 





 
Blogger Templates